Chủ nhật, 05/09/2010, 13:17 GMT+7
Main menu
Trang chủ
Giới thiệu
Tin tức sự kiện
Tư liệu
Kết quả nghiên cứu KH
Văn bản
Danh bạ QNAUSTA

 

Liên kết web

 
Đang online
Chúng ta có 10 khách trực tuyến
Trang chủ arrow Tư liệu arrow "Tam nông" và Chiến lược phát triển của Quảng Nam

"Tam nông" và Chiến lược phát triển của Quảng Nam
Wednesday, 10 12 2008

Hơn năm trăm năm, kể từ ngày lập ra xứ Quảng trong một đất nước có hơn bốn ngàn năm lịch sử, người dân Quảng Nam và nhân dân cả nước đã lao động, dựng xây, đổ máu xương cho Tổ quốc độc lập, tự do; nhưng cho đến hôm nay, cả nước vẫn còn nghèo, Quảng Nam vẫn còn nghèo. Có lý lẽ thuộc sức sản xuất của một nền nông nghiệp lạc hậu, phân tán, manh mún, độc canh... nên đất nước chưa thoát nghèo; người làm nông nghiệp cùng lắm chỉ đủ ăn chứ không thể nào giàu có.

Áp dụng cho tổng thể nền kinh tế cả nước thì lập luận ấy là đúng, nhưng từ đó áp đặt cho ngành sản xuất nông nghiệp của người nông dân cư trú trên địa bàn nông thôn với lời phán “xanh rờn”: “làm nông nghiệp chỉ có nghèo đói”, thì theo tôi, cần phải được xem xét cẩn trọng. Trước đây, đã có lúc chúng ta hô hào đánh đổ địa chủ, phú nông, giành ruộng đất lại cho dân cày, vì tầng lớp ấy giàu có và bóc lột nông dân lao động. Tôi không chủ tâm nêu vấn đề có tính lý luận về giai cấp, mà chỉ đề cập đến khía cạnh làm giàu của địa chủ, phú nông, bởi từ thực tiễn làm giàu của họ, chúng ta có thể nhận thức rõ hơn một điều có thật đã từng xảy ra trên đất nước mình: trong những điều kiện kinh tế-xã hội nhất định, nông dân vẫn có thể làm giàu từ nông nghiệp.

Nghị quyết số 26, Hội nghị Trung ương 7 (khóa X) là nhằm nâng cao đời sống nông dân từ chính sản xuất nông nghiệp, làm thay đổi nhanh chóng và sâu sắc bộ mặt nông thôn trong thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH đất nước. Với Quảng Nam, làm gì, làm như thế nào để nông dân có thể làm giàu từ nông nghiệp; rồi chừng mươi, mười năm đến, nông nghiệp tỉnh ta phát triển toàn diện, hiệu quả và bền vững; nông dân Quảng Nam có cuộc sống khá giả và giàu có; nông thôn Quảng Nam bừng lên sức sống mới có tính đột phá? Làm được những điều vừa nêu chính là chúng ta tổ chức thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đảng. Từ những suy nghĩ như trên, tôi xin góp đôi điều:

Một là, phải tăng diện tích đất canh tác trên một nông hộ.  Muốn vậy,  trước tiên phải giữ lấy đất sản xuất nông nghiệp. Tôi nói đất sản xuất nông nghiệp chứ không phải chỉ là đất lúa! Đất đai nói chung là của tự nhiên, nhưng đất nông nghiệp là sản phẩm của cả một quá trình tạo dựng của nhiều thế hệ; là máu, là mồ hôi; là vốn liếng, là tư liệu sản xuất chủ yếu của nông dân; là gia sản;...Và nó kết hợp với sức lao động, chính là nguồn sống của nông dân ở bất cứ thời kỳ nào trong lịch sử của dân tộc. Hôm nay, với thời kỳ CNH,HĐH, dẫu được đi khắp “chân trời góc biển”, dẫu rồi có thể định cư trên mặt trăng đi chăng nữa, rốt cuộc, tất cả đều phải ăn để mà sống, mà tồn tại rồi mới làm được chuyện khác nữa; mà cái sự ăn đó, không thể ngành sản xuất nào khác có thể thay thế sản xuất nông nghiệp, sản xuất ngay trên chính đất nông nghiệp.

Đã có quan điểm rằng: cho thuê hoặc giao đất có thu tiền trên năm ba nghìn mét vuông đất nông nghiệp để dựng cây xăng là đã thu ngay bạc tỷ cho ngân sách; còn trồng lúa, các cây trồng khác thì chỉ làm ra giá trị chừng năm bảy triệu, nhà nước không thu được đồng nào vì đã miễn thuế nông nghiệp, lại còn bao cấp luôn cả phí thuỷ lợi nữa (!) Sự so sánh, biện luận như vậy, theo tôi là phi chính trị, là kinh tế thị trường như quan điểm của Tổng thống Mỹ G. Bush. Và xin được nhấn mạnh rằng, mới đây, chính Bush đã phải khẩn thiết đề nghị hai viện quốc hội Mỹ can thiệp để giải cứu thị trường với hàng trăm tỷ đô-la Mỹ. Với Việt Nam và với Quảng Nam, hãy luôn ghi nhớ: năm ba nghìn mét vuông là cơ đồ của một gia đình nông dân, nếu giả dụ nhà nước chẳng giúp đỡ gì đi nữa, trên mảnh đất ấy, bằng lao động của mình, gia đình nông dân vẫn có thể sống: sống trong thanh bình, sống hoà hợp với tự nhiên, sống nghĩa tình với bà con...Và rộng lớn hơn, sâu xa hơn, còn là sống để nuôi dưỡng, ấp ủ cháy bỏng tình yêu Tổ Quốc Việt Nam trong dòng máu Việt. Không có bạc tỷ nào đánh đổi được cái nền văn hiến trên mảnh đất đồng quê ấy của dân tộc, của nông dân Việt Nam , nông dân Quảng Nam .

Dẫu vậy, tôi vẫn đồng ý rằng, chúng ta phải khuyến khích phát triển công nghiệp, dịch vụ trên đất Quảng để làm giàu mau hơn, nhiều hơn nhưng phải với quan điểm thật rõ ràng, dứt khoát: chúng ta là người chủ của mảnh đất nầy, chứ không phải là người đang quản lý và sử dụng đất với tâm lý của người ở đậu, tạm cư. Làm công nghiệp, dịch vụ ở khu vực nào, địa điểm nào là do ta quyết định, còn để khuyến khích các nhà đầu tư thì ta có cơ chế về thuế, tiền thuê đất, về các chính sách ưu đãi khác. Và do đó, tất cả các hoạt động công nghiệp, dịch vụ, theo tôi, đều cần đặt trên đất chuyên dùng, đất khác, mà không lấy đất nông nghiệp. Có ý kiến bảo nhà đầu tư cũng có sự chọn lựa, chỗ nào thuận tiện thì họ mới đến. Đó cũng là một lập luận, nhưng theo tôi, là lập luận có tính cục bộ, chỉ nghĩ đến lợi ích của nhà đầu tư mà chưa nghĩ đến lợi ích chung, lợi ích của người nông dân. Với kiến thức, năng lực, vốn liếng của một nhà kinh doanh, dù là nhà đầu tư trong nước hay nước ngoài, với điều kiện kỹ thuật hiện đại thì bất kỳ ở đâu, nhà đầu tư cũng có thể biến thành “công trường nhộn nhịp”, làm giàu được cho mình và cho xã hội. Ở tỉnh ta, sự thành công của khu công nghiệp Điện Nam-Điện Ngọc, một khu công nghiệp được xây dựng trên đất cát đã minh chứng rõ ràng nhất cho quan điểm tôi nêu trên.

Thử làm một phép so sánh, ta có thể thấy ngay lợi ích: làm công nghiệp, dịch vụ ở đất cát như chúng ta đã làm thì có thêm việc làm cho nông dân lao động chuyển nghề, nhà đầu tư giàu lên, nhà nước thu được thuế mà ít người nông dân tay trắng; còn nếu sử dụng đất nông nghiệp để làm công nghiệp, dịch vụ thì sẽ có thêm người nghèo, người không có việc làm mà vốn dĩ họ chỉ biết làm nông nghiệp mà thôi. Nghề nông nào có tội tình gì! Các nhà lãnh đạo, quản lý, nên nhớ rằng, đến hôm nay cả nước chỉ mới một bộ phận giàu có (khoảng 10-20% dân số); trong khi đó, vì lấy đất nông nghiệp để làm công nghiệp, dịch vụ nên đã xuất hiện hàng trăm ngàn nông dân ở độ tuổi trên dưới năm mươi trở thành người không biết làm việc gì để tự nuôi mình.

Hai là, chuyển dịch nhanh và quyết liệt lao động nông nghiệp sang các ngành nghề khác. Nói chung chung thì ai cũng có thể nói được, nhưng chuyển bằng cách nào, đi đến chỗ mới nào, làm nghề cụ thể gì, thu nhập và đời sống ra sao... là cả một bài toán không đơn giản và cho đến hôm nay, chúng ta vẫn chưa có lời giải thoả đáng. Nên chăng, tỉnh cần có chủ trương rõ ràng, cụ thể hơn nữa về đào tạo nghề theo yêu cầu của quy hoạch và kế hoạch phát triển công nghiệp, dịch vụ ở địa phương, đi liền với đào tạo nghề miễn phí cho nông dân, nhất là số lao động trẻ ở nông thôn, có sự tham gia của nhà đầu tư. Đào tạo nghề cho ra nghề theo phương châm “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”, thời gian dành cho đào tạo nghề có thể dài hơn mức bình thường. Hội đồng Nhân dân tỉnh nên có Nghị quyết về bắt buộc các doanh nghiệp trong tất cả các thành phần kinh tế tiếp nhận lao động thực tập nghề và dĩ nhiên, đơn vị có thực tập sinh cũng phải chịu một phần chi phí cho doanh nghiệp. Việc nầy nhiều nước trên thế giới đã quy định thành luật về thực tập nghề, mà phần ưu ái dành nhiều hơn cho người học nghề.

Số lao động còn lại trong nông nghiệp, tổ chức sản xuất theo hướng nào để có thể khá giả, giàu có. Giữ nguyên diện tích đất nông nghiệp hiện có cộng với tích cực chuyển dịch nhanh lao động nông nghiệp sang ngành nghề khác (chừng 60-70% lao động nông nghiệp, nhiều hơn nữa càng tốt) thì bình quân diện tích canh tác trên một khẩu nông nghiệp ở tỉnh ta sẽ tăng lên 3 lần so với hiện nay và mức tích tụ ruộng đất chừng 2ha trở lên cho một nông hộ cũng sẽ thành hiện thực và khả năng làm giàu từ nông nghiệp là khả thi. Cùng với tăng mức tích tụ ruộng đất bình quân trên nông hộ, việc chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ ngành nông nghiệp cũng cần phát động và hướng dẫn nông dân tổ chức sản xuất một cách có bài bản, tỉ mẩn: nếu trồng lúa, trồng bắp, nuôi bò, nuôi vịt… thì nuôi, trồng ở đâu (tương đối tập trung ở một cánh đồng, một khu vực); giống cây con nào có năng xuất, chất lượng nhất và làm ra để dùng hay để bán. Thậm chí việc trồng cỏ để chăn nuôi cũng cần có quy mô nhất định, ra tấm, ra món... Cách làm hiệu quả là khuyến khích nông dân tự liên kết lại, góp đất đai, chọn sản phẩm thị trường cần, cùng vay vốn tín dụng, đầu tư có trọng điểm, đúng lúc... Lực lượng có thể đi đầu thực thi tốt chủ trương nầy là đoàn viên, thanh niên nông thôn. Hơn lúc nào hết, giai đoạn quyết định cho sự chuyển đổi, sự đổi thay, sự đi lên của nông nghiệp, nông thôn đất Quảng hiện đặt lên vai, đặt vào tay thế hệ trẻ nông thôn sứ mệnh cao cả: xung kích trong tổ chức lại lực lượng, làm thành công với hiệu quả cao nhất việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Đoàn Thanh niên Cộng sản, Hội Liên hiệp thanh niên cần phải làm được, làm tốt việc nầy trong thực tiễn đời sống nông thôn và xứng đáng được suy tôn.

Ba là, chính quyền cấp tỉnh có trách nhiệm định hướng, dẫn dắt thị trường, đồng thời phải chuẩn bị lực lượng vật chất để có thể can thiệp thị trường khi có biến động bất lợi cho nông dân.  Muốn làm ra sản phẩm để bán và được thị trường chấp nhận, người nông dân phải tự giác ngộ lại những điều tưởng như đã cũ: nước- phân- cần- giống, chỉ có điều nâng lên tầm mới, cao hơn: tất cả đều phải sạch. Thực ra, chính nông dân khi làm ra sản phẩm để tiêu dùng cho bản thân họ đã chú ý đầy đủ đến yếu tố “sạch”. Chẳng thế mà có người cháu về thăm quê thấy đám rau tươi tốt, muốn xin bà dì một ít, dì hỏi: để ăn hay đem cho ai? Bảo tại sao dì hỏi vậy? Trả lời: ăn thì dì chọn cho cái xấu hơn nhưng không có thuốc sâu, còn cho ai thì lấy cái tốt, cho nó đẹp mắt, nhưng…! Ngay cả con heo nuôi để giỗ, tết cũng có chế độ ăn khác với heo nuôi để bán ra thị trường. Vậy nên phải làm một cuộc cách mạng về tư tưởng cho nông dân, hãy quay về với truyền thống “thương người như thể thương thân”, để bất cứ nông phẩm nào do nông dân Quảng Nam sản xuất ra cũng đều phải sạch, dẫu để dùng hay để bán cho người khác dùng. Ai làm tốt việc nầy? Tôi cho rằng Hội Nông dân sẽ làm được và làm tốt. Tổ chức Hội phải giác đắc để nông dân mình giữ tròn đạo đức nhà nông. Ngày xưa, khi đi làm đồng, người nông phu thấy một nhành gai vương vãi giữa đường đã dừng lại nhặt và đem đặt nó tận trong hàng rào để chẳng những mình không giẫm phải mà người đi sau cũng không giẫm lên nó. Cao thượng, nhân ái là vậy, sao bây giờ lại “vô tình”, lại “ác độc’ khi đi phun thuốc kích thích sinh trưởng cho cả rau muống, gía, khổ qua,...(!?)

Khi đã có sản phẩm tốt, chất lượng đảm bảo rồi thì cũng không thể không tính đến sự “trồi sụt” của thị trường. Cách hàng chục thế kỷ, Vương An Thạch (Nhà Tống) đã thi hành chính sách “Thanh miêu”:  Lúc giáp hạt, nhà nước cho nông dân vay tiền để mua lúa gạo, đến mùa thì trả tiền cho nhà nước với mức lãi vừa phải, nông dân không bị chèn ép bởi nạn cho vay cắt cổ ở nông thôn lúc bấy giờ; hoặc chính sách “Thị dịch”: Khi giá cả hàng hóa bị thấp so với giá thành, người sản xuất bị thua lỗ, nhà nước bỏ tiền ra mua cao hơn giá thị trường một ít để người sản xuất có lãi đôi chút, rồi đem cất vào kho; khi giá thị trường lên cao quá, người dân không mua nổi thì nhà nước đem số hàng đã mua trước đây bán lại cho dân với giá thấp hơn giá thị trường một ít, người lao động có thể mua được, nhà nước lãi ít một chút nhưng chung quy vẫn là có lãi.

Huống hồ, hôm nay, ta đang thực hiện cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, sao không làm được điều đó? Nông dân bị thua thiệt về giá bò, heo, lúa trong thời gian qua, chính là vì nhà nước nói chung, chính quyền địa phương nói riêng chưa vào cuộc khi thị trường chao đảo, thậm chí cả khi thị trường nông thôn bị một số người thao túng. Vì vậy, tỉnh cần dành một ngân quỹ và giao cho ngành công thương thực hiện việc nầy và tôi tin là sẽ chỉ có lợi cho dân, cho nhà nước; còn nếu có thiệt chỉ là những kẻ “đầu cơ” bị thiệt mà thôi.

Bốn là, đầu tư đồng bộ cho kết cấu hạ tầng bức thiết, nhân lực chuyên sâu trong nông nghiệp; có chính sách về vốn tín dụng một cách công khai, rõ ràng, thuận lợi cho nông dân.  Cơ sở vật chất thiết yếu nhất là giao thông cho nông thôn. Trong một đến hai năm cần chấm dứt tình cảnh “nắng bụi mưa bùn” cho tất cả đường về thôn xóm dân cư ở nông thôn, đặc biệt là nông thôn miền núi. Tại sao ở đô thị, ta có thể bố trí một lượng ngân sách hàng trăm, hàng ngàn tỷ đồng để đầu tư cho “đường ngang ngõ dọc” nội đô. Đành rằng bộ mặt của một địa phương, một đất nước không thể không đầu tư như vậy, nhưng tiếc rằng, không ít con đường đầu tư nhưng phải “chờ” người đi, cư dân đô thị chẳng phải đóng góp bao nhiêu, thậm chí không phải góp gì cả; trong khi đó, nhà nước chỉ hỗ trợ xi măng, dân nông thôn tự sắm vật liệu, tự bỏ công xá để làm thì ta hỗ trợ nhỏ giọt. Ngay cả Chính phủ cũng chỉ cho địa phương vay vốn để hỗ trợ xi măng mà vì sao lại không cho không, xem như một khoản đầu tư trực tiếp của nhà nước Trung ương cho nông thôn?

Các cơ sở vật chất khác như trường, trạm y tế cũng cần được chính thức ghi vốn ngân sách để đầu tư thoả đáng. Lâu nay, việc bố trí vốn phi chính phủ, vốn viện trợ nhà nước, vốn vay nước ngoài cho sự nghiệp này, ở đô thị cũng được chú ý hơn ở nông thôn, theo tôi đó là một thiếu sót lớn của cả nước cũng như của tỉnh. Nếu hôm nay chúng ta cho quay phim, chụp ảnh các cơ sở trường học, y tế trên toàn tỉnh Quảng Nam, sẽ có bức tranh toàn cảnh thế nầy: đồng bằng, đô thị toàn cấp xây dựng cao, nhiều tầng, khang trang, hiện đại; nông thôn miền núi xây dựng chắp vá, xuống cấp, một số nơi tạm bợ. Hiện thực đó bắt nguồn từ việc chỉ đạo tổ chức thực hiện không tuân thủ chính sách đã trở thành khẩu hiệu, ai cũng thuộc: “Ưu tiên cho nông thôn, miền núi”.

Nhân lực được đào tạo chuyên ngành nông nghiệp cần tổ chức giao mỗi người phụ trách một xã, nếu không đủ nguồn thì mỗi người phụ trách 2-3 xã; song trùng lãnh đạo giữa ngành chuyên môn và tổ chức Đảng, chính quyền cơ sở, huyện, thành, nhưng cơ quan quản lý thống nhất, trực tiếp phải là ngành nông nghiệp. Có thể đặt ra chủ trương khuyến khích bằng vật chất cho đội ngũ này thông qua trả thêm một khoản trợ cấp, hoặc phụ cấp. Lực lượng ấy có trách nhiệm, có nghĩa vụ trực tiếp giúp nông dân xử lý nhanh, kịp thời, đúng kỹ thuật tất cả những vấn đề nẩy sinh trong trồng trọt, chăn nuôi, trong thu hoạch và bảo quản sản phẩm, trong bảo vệ môi trường…Mạnh dạn chuyển giao vốn tín dụng trực tiếp cho nông dân với thủ tục đơn giản hơn; chính quyền cơ sở có trách nhiệm công khai cho nông dân biết chủ trương vay vốn, những nông hộ nào được vay, đã vay và công khai cả vấn đề trả nợ. Dĩ nhiên, cũng cần phải xác lập cơ chế hướng dẫn tận tình, kiểm tra, kiểm soát việc sử dụng vốn tín dụng của các nông hộ một cách chặt chẽ, hiệu quả.

Năm là, ở tầm vĩ mô, cần đề nghị khẩn thiết với Nhà nước Trung ương về chính sách cân bằng giá cả giữa công nghiệp và nông nghiệp. Thịt bò nhập khẩu bán ở Việt Nam tính ra cả mấy trăm ngàn đồng/kg, thậm chí thịt bò Kobe của Nhật, bán lẻ ở Việt Nam được tính đến hơn 200 đô-la Mỹ/kg. Ở nhiều nước, chiếc ti-vi, cái tủ lạnh, cái điều hoà ... chất lượng tương đương những sản phẩm cùng loại hiện đang bán tại Việt Nam , giá chỉ bằng trên dưới giá bán chừng mươi kg thịt bò của nông dân. Vì vậy, nông dân các nước phát triển họ sống đàng hoàng từ lao động nông nghiệp có phần của việc cân bằng giá cả đó. Ở Việt Nam , ở Quảng Nam , người nông dân bán nguyên một con bò mới có thể sắm được một chiếc ti vi, nói gì đến tủ lạnh, máy giặt... Khi đã gia nhập tổ chức Thương mại Thế giới, chúng ta chấp nhận hội nhập với giá cả quốc tế, thì đồng thời không thể cứ mãi “tự hào” là nước ta, tỉnh ta có “nhân công giá rẻ”; còn thu nhập của người dân nói chung, nông dân nói riêng chỉ của riêng nước ta, thì biết đến bao giờ mới có thể hội nhập với mức sống của thế giới (?)

Nhất định còn nhiều việc khác nữa phải làm để nông nghiệp, nông dân, nông thôn Quảng Nam phát triển như Nghị quyết 26 của Trung ương Đảng. Nhưng tôi cho rằng, cần phải giải quyết năm vấn đề nêu trên, ở cả tầm vi mô lẫn vĩ mô một cách hiệu quả; những nhà lãnh đạo và quản lý phải bằng tầm nhìn bao quát cùng với tấm lòng luôn nghĩ đến nông dân khi giải quyết các công việc cụ thể liên quan đến xã hội nông thôn. Mỗi một đơn vị, địa phương trong tỉnh nhất định phải đề ra và làm thành công một điều gì đó (chỉ một điều thôi cũng đã là tốt), mang lại lợi ích trực tiếp, tức thời, nhìn thấy được cho nông nghiệp, nông thôn và nông dân!

Cho phép tôi mượn lời thơ Nguyễn Sỹ Đại nói về nông dân đăng lần đầu tiên trên báo Nhân Dân vào năm 1986 để kết thúc bài viết nầy: “tôi đã thấy trên chiến trường ngã xuống/những nông dân áo lính, máu  tươi ròng”;  “tôi đã thấy nông dân suốt cả đời làm lụng/nuôi cái ăn chung trên mảnh đất khô cằn”; “nông dân sống lặng thầm như đất/có thể hoang vu, có thể mùa màng/xin chớ mất, chớ niềm tin sai lạc/chín phần mười đất nước-nông dân”.

                                                                                                Phan Văn Phờ

 

 
Tiếp >

Hội thi Sáng tạo kỹ thuật

tỉnh Quảng Nam

 

 

Quảng cáo

 

 

 

 


© 2010 Bản quyền của liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Quảng Nam
Địa chỉ: 54 Hùng Vương -- Tam Kỳ -- Quảng Nam ĐT:0510.810273; Email: qnalhh@yahoo.com, qnalhh@vusta.vn