|
Quảng Nam là tỉnh nông nghiệp, gần 83% dân số sống ở nông thôn, chiếm trên 67% lực lượng lao động toàn tỉnh (2007), dự kiến cuối năm 2008, giảm còn khoảng 66%. Thời gian qua, nông nghiệp tăng trưởng bình quân 4,3%/năm. “Tam nông” ở Quảng Nam đạt được những mặt quan trọng về sản lượng lương thực, chăn nuôi, trồng trọt, thủy sản; về phát triển hạ tầng, công tác chăm sóc sức khỏe, giáo dục và các thiết chế văn hóa. Đời sống nhân dân ổn định, có bước phát triển khá toàn diện. Sự phát triển đó, có sự “xâm nhập” và tác động của KH&CN.
Trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo phát triển KH&CN tỉnh nhà, Tỉnh ủy, HĐND tỉnh, UBND tỉnh đã tập trung chỉ đạo đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng các tiến bộ khoa học phục vụ nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Ngay khi tái lập tỉnh, năm 1997, Tỉnh uỷ ban hành Chương trình hành động triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 (khoá VIII) về " Định hướng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ trong thời kỳ CNH, HĐH và nhiệm vụ đến năm 2000 ". Năm 2002, Tỉnh uỷ tiếp tục đề ra Chương trình hành động thực hiện Kết luận hội nghị Trung ương lần thứ 6 (khoá IX) về giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ. Năm 2006, HĐND tỉnh khóa VII đã ra Nghị quyết về "Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ tỉnh Quảng Nam đến 2015, tầm nhìn 2020".
Giai đoạn hiện nay, Quảng Nam đẩy nhanh nhịp độ tăng trưởng kinh tế đi đôi với chuyển đổi cơ bản cơ cấu nền kinh tế theo hướng cùng song song phát triển công nghiệp và dịch vụ, đồng thời chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp sang nền nông nghiệp hàng hóa; bào tồn và phát triển văn hóa, mà nhân tố con người là yếu tố trung tâm… nhằm xây dựng và tạo cơ sở phát triển Quảng Nam thành một tỉnh công nghiệp vào trước năm 2020. Nghị quyết Đại hội XIX Đảng bộ tỉnh đã định hướng về khoa học và công nghệ là “Tăng cường khả năng lựa chọn, tiếp thu, làm chủ và ứng dụng các thành tựu công nghệ tiên tiến vào sản xuất và dịch vụ. Tạo bước đột phá nâng cao dân trí bằng ứng dụng phổ biến công nghệ thông tin, xây dựng các trung tâm công nghệ thông tin phục vụ cộng đồng. Thường xuyên tổ chức phổ biến kiến thức, chuyển giao công nghệ cho nhân dân …”.
Theo định hướng đó, công tác nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ Quảng Nam đã chú trọng đến lĩnh vực “tam nông” trên các góc độ ứng dụng tiến bộ khoa học trong sản xuất, trong nghiên cứu các vấn đề xã hội và trong bảo tồn các giá trị văn hóa, mà quan trọng nhất là văn hóa truyền thống, văn hóa làng xã. Các nhiệm vụ khoa học cấp tỉnh (không tính các nhiệm vụ địa phương và các ngành) phục vụ cho “tam nông”, trong đó có chú trọng vùng miền núi chiếm tỷ lệ lớn trong các chương trình, đề tài, dự án KH&CN toàn tỉnh: giai đoạn 1997-2000, chiếm 75%; giai đoạn 2001-2005, chiếm 56%; giai đoạn từ 2006 đến nay, trung bình chiếm gần 40%. Theo đó, kinh phí đầu tư cho các nhiệm vụ này cũng chiếm tỷ lệ cao trong tổng kinh phí đầu tư cho sự nghiệp KH&CN cấp tỉnh: giai đoạn 1997-2000, chiếm trên 35%; giai đoạn 2001-2005, chiếm gần 30%; giai đoạn từ 2006 đến nay, trung bình chiếm trên 30%. Các nhiệm vụ KH&CN cấp Quốc gia thực hiện trên địa bàn Quảng Nam từ 1997 đến nay với tổng kinh phí đầu tư gần 9 tỷ đồng cũng đều ưu tiên tập trung cho “tam nông”.
Sự đầu tư đó đã mang lại hiệu quả rõ nét. Nhiều đề tài nghiên cứu và ứng dụng có hiệu quả, như: Nghiên cứu mô hình cây trồng vùng cát ven biển; nghiên cứu phát triển cây sâm Ngọc Linh, phát triển giống vùng lúa cạn cho năng suất cao; các mô hình chăn nuôi đại gia súc (bò lai Sind, dê bách thảo) ở các huyện miền núi. Phát triển nuôi tôm ở các vùng nước lợ, đồng thời tiến hành nghiên cứu các qui trình, biện pháp nuôi đạt hiệu quả kinh tế kết hợp phòng bệnh và bảo vệ môi trường sinh thái. Phát triển các giống gia súc, gia cầm (lợn lai, gà tam hoàng, vịt siêu trứng). Khảo nghiệm phổ biến các giống lúa, các giống cây ăn quả... phù hợp với các vùng sinh thái của tỉnh. Đã tổ chức trình diễn các công cụ làm đất, thu hoạch, xây dựng mô hình chế biến nông sản với qui mô nhỏ tại huyện Duy Xuyên; chuyển giao công cụ tẽ ngô quay tay đến đồng bào dân tộc vùng núi. Hỗ trợ việc ứng dụng điện mặt trời cho vùng núi và vùng hải đảo. Triển khai phổ biến sử dụng hầm khí biogaz tại các huyện Duy Xuyên, Thăng Bình, Đại Lộc và Thành phố Hội An, Tam Kỳ. Thực hiện dự án xây dựng mô hình áp dụng tiến bộ KH&CN tại 2 xã Bình Minh, Bình Hải, huyện Thăng Bình.
Nghiên cứu thành công và đưa vào áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất lúa lai, lúa rẫy năng suất cao; tuyển chọn, phục tráng và sản xuất giống ngô, dâu tằm, keo lai, quế Trà My, boòn boon, bưởi, thanh trà, nấm,…; trồng cỏ, nuôi bò; ứng dụng quy trình bảo vệ thực vật, quy trình công nghệ vào sản xuất nông-lâm nghiệp kết hợp; xây dựng mô hình ứng dụng TBKT phát triển kinh tế bền vững miền núi và trung du; bảo tồn và phát triển một số cây dược liệu... đạt kết quả tốt, tạo điều kiện phát triển cây công nghiệp, thực phẩm, đảm bảo lương thực, từng bước hình thành nền nông nghiệp hàng hoá, góp phần phát triển nông nghiệp, nông thôn. Ứng dụng công nghệ mới khai thác và bảo vệ nguồn lợi, nuôi trồng thuỷ sản; nghiên cứu giống cá rô phi đơn tính đực, cùng các giống cá khác hình thành nghề nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt toàn tỉnh. Nhiều ứng dụng kỹ thuật nuôi ếch, baba, cá lóc bông, bống tượng; bảo vệ tôm nuôi;…góp phần tăng diện tích nuôi trồng, có ý nghĩa chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi, tăng thu nhập cho nhân dân.
Triển khai các mô hình ứng dụng KH&CN phát triển kinh tế gia đình, vườn, rừng, trang trại; canh tác đất dốc; giống lúa cạn; nuôi cá, bò,…; chế biến đậu tương; bảo tồn nguồn dược liệu, bảo quản tinh dầu quế; dệt thổ cẩm, mây tre; phổ biến tiến bộ KH&CN cho nhân dân. Nghiên cứu phong tục tập quán, luật tục, ngôn ngữ, văn hoá làng, dân gian; giải pháp đẩy mạnh giáo dục, bảo đảm an ninh…Các kết quả đó góp phần định canh định cư, giúp đồng bào ổn định đời sống, phát triển kinh tế và nâng cao dân trí. Đã kết hợp tốt nghiên cứu thử nghiệm với công tác khuyến nông-lâm-ngư, công tác thông tin phổ biến, chuyển giao tiến bộ KH&CN cho hộ nông dân. Hiện nay, đã có nhiều mô hình hộ nông dân làm ăn giỏi bằng việc áp dụng các tiến bộ KH&CN và năng động trong tổ chức sản xuất ở qui mô hộ gia đình. Thông tin KH&CN từng bước được đầu tư và phát triển cả về tổ chức, kênh và nguồn lực thông tin phục vụ quản lý, KH&CN, sản xuất và đời sống, góp phần nâng cao dân trí.
Tuy nhiên, cũng khách quan mà nhận định rằng: KH&CN phục vụ cho “tam nông” ở Quảng Nam cũng còn những hạn chế và bất cập nhất định từ công tác nghiên cứu đến ứng dụng và sản xuất. Hệ thống thông tin KH&CN chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của nhân dân trên góc độ phù hợp dân trí và sinh thái từng vùng, nhất là vùng núi. Các ngành công nghiệp phụ trợ, công nghiệp chế biến nông-lâm sản là thế mạnh của tỉnh chưa phát triển mạnh. Tiêu thủ công nghiệp, làng nghề phát triển không đều, ứng dụng công nghệ mới không nhiều, chất lượng sản phẩm thấp, chủng loại sản phẩm chưa đa dạng. Các mô hình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật đạt kết quả tốt, nhưng chậm chuyển giao, nhân rộng. Các đơn vị nghiên cứu- triển khai (R-D) trong lĩnh vực “tam nông” chưa mạnh. Công tác quản lý nhà nước về KH&CN địa phương mới chỉ bắt đầu, thường xuyên xáo trộn theo sự sắp xếp của hệ thống tổ chức.
Thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 (khóa X), cuối tháng 10.2008, Tỉnh ủy Quảng Nam ban hành Chương trình hành động số 23-CTr/TU về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và Chương trình hành động số 21-CTr/TU về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Hai Chương trình này có quan hệ mật thiết với nhau cả về nội dung, giải pháp, nhiệm vụ và vai trò của chủ thể được điều chỉnh và tổ chức thực hiện; khẳng định trí thức góp phần nâng cao tầm trí tuệ dân tộc, mà cụ thể ở một nước nông nghiệp, một tỉnh nông nghiệp thì chính là góp phần nâng cao dân trí. Đây chính là con đường để nhà khoa học và nhà nông gặp nhau trong mối liên kết 4 nhà.
Về nhiệm vụ và giải pháp KH&CN trong “tam nông” ở Quảng Nam, Tỉnh ủy xác định:
“- Bố trí lồng ghép cá nguồn vốn từ các chương trình, dự án cùng với tăng vốn sự nghiệp đầu tư cho khuyến nông, ứng dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ để nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh của nông sản.
- Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực tại chỗ và có cơ chế đãi ngộ để thu hút lao động có trình độ về làm việc ở nông thôn…. Thực hiện xã hội hóa công tác khuyến nông ở vùng đồng bằng, ngân sách nhà nước tập trung hỗ trợ cho khuyến nông ở miền núi, hộ nghèo và hỗ trợ ứng dụng công nghệ tiên tiến,…”
Để triển khai thực hiện các định hướng, nhiệm vụ của Tỉnh ủy giao cho KH&CN giải quyết đối với “tam nông” và từ thực tế, chúng tôi cho rằng tập trung mấy việc cụ thể sau:
Thứ Nhất, về công tác quản lý KH&CN: Ưu tiên hàng đầu là sớm thành lập Ban Chủ nhiệm các Chương trình KH&CN trọng điểm cấp tỉnh giai đoạn 2015-2020 để xác định mục tiêu, các nhiệm vụ cụ thể, các sản phẩm khoa học cụ thể theo một tiến độ cụ thể với những tổ chức, cá nhân nhà khoa học và địa chỉ áp dụng cụ thể. Trong đó, có 02 Chương trình liên quan trực tiếp đến “tam nông”: Chương trình KH&CN phục vụ nông nghiệp và nông thôn; Chương trình nghiên cứu khoa học phục vụ phát triển kinh tế-xã hội vùng núi và dân tộc ít người.
Tổ chức nghiên cứu chủ yếu theo chương trình (tất nhiên, có những đề tài độc lập) nhằm mục tiêu giải quyết những vấn đề lớn do kinh tế - xã hội đặt ra. Tạo cơ chế hữu hiệu để tập trung giải quyết các nhiệm vụ KH&CN liên quan đến sản phẩm chủ lực, thế mạnh của tỉnh trong cạnh tranh. Có cơ chế chính sách đầu tư đến ngưỡng cho các công trình nhiều triển vọng áp dụng vào sản xuất và đời sống. Việc đầu tiên là phải đổi mới và tổ chức tốt khâu đánh giá nhu cầu đầu vào khi xác định mục tiêu, nhiệm vụ KH&CN.
Xác định rõ quyền hạn và trách nhiệm của Ban Chủ nhiệm chương trình trong việc lựa chọn nhiệm vụ nghiên cứu, trong triển khai các hoạt động liên quan đến quá trình tổ chức thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu cũng như trách nhiệm về kết quả, hiệu quả của chương trình.
UBND các huyện, thành phố, tùy theo đặc điểm và định hướng phát triển kinh tế-xã hội của mình mà sớm xây dựng Chương trình, Kế hoạch dài hạn, ngắn hạn về phát triển KH&CN của địa phương nhằm đưa KH&CN về sát với dân, góp phần thực hiện Nghị quyết HĐND tỉnh về Chiến lược phát triển KH&CN Quảng Nam đến năm 2015, tầm nhìn 2020. Sớm ổn định cả về tổ chức và cán bộ quản lý KH&CN địa phương.
Thứ Hai, về đa dạng hóa các nguồn vốn cho hoạt động KH&CN: Hàng năm, kinh phí sự nghiệp đầu tư cho nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ khoảng 10 tỷ đồng, trong đó khoảng từ 50-60% đầu tư cho các đề tài, dự án KH&CN, trong đó đầu tư trực tiếp cho ngân sách cấp huyện khoảng 20% để giải quyết các nhiệm vụ của địa phương; số còn lại đầu tư cho các nhiệm vụ quản lý khác như: Thanh tra, an toàn bức xạ, sở hữu trí tuệ, thông tin, tiêu chuẩn-đo lường-chất lượng,…và cho cho bộ máy quản lý.
Cần bố trí nguồn kinh phí để thực hiện các giải pháp KH&CN trong các Chương trình, đề án, dự án phát triển kinh tế-xã hội (gọi chung là Đề án) bằng chính nguồn vốn của đề án đó, theo một tỷ lệ hợp lý. Có như vậy, các giải pháp KH&CN đó mới có tính khả thi; tránh tình trạng việc thì nhiều mà cơ chế tài chính và nguồn vốn thì không, dẫn đến tình trạng “Biết rồi. Khổ lắm, nói mãi”. Các địa phương, cần đầu tư cho hoạt động KH&CN của địa phương mình thông qua các Chương trình, kế hoạch cụ thể.
Đồng thời với các nguồn vốn trên, cần chú trọng và dành nhiều tâm huyết để tham gia tranh thủ các nguồn vốn từ Chương trình KH&CN cấp Quốc gia. Sự đầu tư này, ngoài ý nghĩa tăng kinh phí cho KH&CN giải quyết những nổi cộm của địa phương, còn thu hút một lượng tài sản vô giá, đó là các kiến thức của các nhà khoa học Trung ương. Từ đó, mà đội ngũ cán bộ KH&CN tỉnh nhà trưởng thành.
Thứ Ba, về phát triển tiềm lực KH&CN trong “tam nông”: Đầu tư cho tiềm lực KH&CN là đầu tư cho nội lực, đầu tư cho phát triển. Kinh nghiệm có tính chất quốc tế là đầu tư cho tiềm lực là nâng cao cạnh tranh, thương hiệu quốc gia. Xây dựng tiềm lực KH&CN, trọng tâm là nguồn nhân lực và vật lực, là nền tảng để tiếp thu, đi tắt đón đầu trong nghiên cứu-ứng dụng thành tựu KH&CN tiên tiến. Tỉnh ủy coi đây là nhiệm vụ trọng tâm và xác định khá cụ thể, quyết liệt: “Hàng năm, có kế hoạch giành một phần kinh phí từ nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản của tỉnh và kinh phí Sở Khoa học & Công nghệ để đầu tư mua sắm trang thiết bị, phương tiện của hệ thống các cơ quan KH&CN”. Kinh phí Sở Khoa học và Công nghệ được hiểu là kinh phí đầu tư phát triển tiềm lực KH&CN. Nguồn vốn này, hàng năm khoảng 7-9 tỷ đồng.
Lý luận phát triển đã có. Định hướng đã có, nguồn vốn đã có. Để thực hiện nhanh, theo chúng tôi tập trung vào các đề án cụ thể sau: Giao cho Sở Khoa học & Công nghệ chủ trì xây dựng “Đề án quy hoạch phát triển hệ thống cơ quan nghiên cứu - triển khai đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa-hiện đại hóa của tỉnh”. Hướng đạt được là xây dựng một hệ thống R-D đạt chuẩn, có năng lực. Đầu tư cơ sở vật chất cho Trung tâm Giống và nông nghiệp Quảng Nam, Trung tâm Ứng dụng và Thông tin KH&CN Quảng Nam,…thành những trung tâm mạnh, có thương hiệu trong lĩnh vực “tam nông” của Quảng Nam. Có chủ trương cho xây dựng Đề án thành lập Trung tâm Ứng dụng và Tư vấn KH&CN cấp huyện theo hướng nâng cấp và “gộp” các chức năng, nhiệm vụ về khuyến nông, khuyến ngư, ứng dụng KH&CN. Kinh nghiệm các tỉnh bạn và Thành phố Tam Kỳ cho thấy mô hình này mang lại hiệu quả rõ rệt đối với “tam nông”.
Thông tin nói chung, thông tin KH&CN nói riêng quyết định tính chất nền kinh tế. Thế giới còn có cách gọi nền kinh tế mới là nền kinh tế thông tin. Về tiềm lực thông tin KH&CN, cho lập Đề án xây dựng Thư viện điện tử KH&CN Quảng Nam trên cơ sở hệ thống thông tin KH&CN Quốc gia và nguồn CSDL toàn văn kết quả nghiên cứu của Quảng Nam, liê quan đến Quảng Nam thông qua một đề tài điều tra công phu. Đầu tư thêm kinh phí cho Tạp chí Khoa học & Sáng tạo, các tạp chí/bản tin liên quan đến “tam nông” khác của tỉnh để phát hành rộng rãi đến hệ thống tổ chức Hội Nông dân, Phụ nữ, Thanh niên, Cựu Chiến binh,…tận cơ sở thôn, bản, làng theo cơ chế hỗ trợ thông tin báo chí cho vùng núi, vùng nông thôn của Chính Phủ. Kinh nghiệm, lực lượng này là một kênh chuyển tải thông tin, kiến thức KH&CN đến dân nhanh nhất, hiệu quả nhất và cũng tâm huyết nhất. Nếu không, các kiến thức quý giá này chỉ nằm ở đội ngũ quan là chính, trong lúc dân cần thì “với không tới”, tìm không ra.
Nâng cấp, tăng cường số lần phát sóng, phát hình, số trang của Chương trình KH&CN thành Tạp chí Khoa học & Công nghệ trên sóng phát thanh-truyền hình. Để làm việc đó, cần 02 cán bộ, một bộ quay camera và dựng phim ban đầu và nguồn kinh phí đủ (theo sự liên kết với Báo Quảng Nam, Đài PT-TH Quảng Nam).
Giao cho Liên hiệp các hội KHKT tỉnh xây dựng Đề án “Phát triển thông tin điện tử KH&CN phục vụ tam nông” (dành riêng một kênh thông tin điện tử cho nông dân). Hà Tĩnh, Bình Dương,.. làm tốt công tác này. Liên hiệp hội tập hợp quanh mình các hội chuyên môn, như: Hội Tin học, Hội Thông tin KH&CN, Hội Chăn nuôi, Thú y, Hội Đông Y,….nghĩa là nguồn “thông tin đầu vào” hay còn gọi là công nghệ nội dung là phong phú, đồ sộ. Đây là yếu tố quyết định hàng đầu. Đây là kênh, là nơi để nhà khoa học thực hiện sứ mệnh truyền bá kiến thức cho quê hương mình, cho nhân dân mình. Nguồn kinh phí thực hiện từ đầu tư cho KH&CN.
Tổ chức xuất bản các tài liệu thông tin, phổ biến tiến bộ KH&CN bằng ngôn ngữ đồng bào dân tộc. Quảng Nam hội đủ điều kiện để xuất bản các tài liệu này bằng ngôn ngữ CơTu, Cadoong, Bhơ-noong,…
Thứ Tư, hình thành cơ chế liên kết giữa nghiên cứu với doanh nghiệp và phát triển doanh nghiệp KH&CN. Lâu nay, có một thực tế, sự đầu tư cho nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của ta còn tình trạng “đầu tư chưa đạt ngưỡng”. Sự đầu tư này, dẫn đến việc chúng ta ít sản phẩm cạnh tranh; chưa hoàn thiện một quy trình nghiên cứu khoa học: ý tưởng, nghiên cứu, công bố, sản xuất thử, sản xuất đại trà (sản phẩm hàng hóa). Nghĩa là hậu nghiệm thu, còn nhiều việc, nhưng theo chúng tôi cần thay đổi mấy việc quản lý sau:
Khoa học của địa phương cơ bản là khoa học ứng dụng, trong nông nghiệp thì tính này càng cao hơn. Vấn đề thành công và dư luận quan tâm là Sở Khoa học & Công nghệ Bình Thuận, khi triển khai nhiệm vụ nghiên cứu khoa học về cây thanh long là “bắt tay” ngay với doanh nghiệp (theo lối nói lâu nay là liên kết 4 nhà: Nhà nước- nhà nông- nhà khoa học- nhà doanh nghiệp). Dự kiến đầu năm 2009, các nghiên cứu về cây thanh long đã được chuyển thành nhiều sản phẩm thanh long và tung ra thị trường. Cùng với nó là thương hiệu được khẳng định, đẩy giá thanh long tăng gấp đôi. Nông dân “nở mặt, nở mày”.
Sự liên kết đó rất cần triển khai ở Quảng Nam, như ta đang nghiên cứu dệt vãi thổ cẩm, bảo quản, chế biến rượu Tàđin, Tàvạt, Ba Kích, quế Trà My,….Đây là những thương hiệu mạnh của Quảng Nam. Sớm xác lập hồ sơ khoa học và hỗ trợ bảo hộ các thương hiệu nổi tiếng của Quảng Nam. Đó là yêu của thời buổi hội nhập, nếu không, ta sẽ tự triệt tiêu thế mạnh của vùng đất mình, dân mình mất nhờ.
Thứ Năm, nếu nói “tam nông” mà chỉ tập trung cho nghiên cứu nông nghiệp là chưa đủ, phiến diện. Các vấn đề xã hội khác mà KH&CN cần phải đầu tư là rất quan trọng, trong đó chú trọng là vấn đề ổn định, nâng cao chất lượng dân số, văn hóa truyền thống, mà tiêu biểu là văn hóa làng xã; các kiến thức bản địa (tập trung nhất ở các làng nghề),….Giao cho Liên hiệp các hội KHKT tỉnh nghiên cứu điều tra để tư vấn, phản biện và giám định những tác động xã hội của các dự án đầu tư lớn, như: thủy điện, khu công nghiệp,…Có một thực tế là đất nông nghiệp dành cho công cuộc này nhiều, song chưa triển khai, trong khi dân không có cơ hội, không còn quyền để khai thác nó. Một khi đất không được khai thác, “treo”, thì giá trị tài nguyên giảm đi rất nhiều. Nên chăng, khi chưa triển khai, hãy để cho dân làm ăn sinh lời trên đất ấy bằng các cây màu, cây ngắn ngày; khi nào cần thì sẽ được thay đổi. Nghiên cứu những tác động xã hội khác, như vấn đề ổn định lâu dài, yên tâm lập cư lập nghiệp, vấn đề giáo dục, y tế,…Vấn đề môi trường nông thôn, tập trung nhất những vùng làng nghề, các cơ sở sản xuất-kinh doanh.
Giao cho ngành văn hóa tổ chức nghiên cứu đầy đủ về giá trị văn hóa làng xã. Văn hóa làng xã là nền tảng, là mảnh đất tốt để xây dựng nông thôn mới, xây dựng các thiết chế văn hóa nông thôn. Cùng với sự xuất hiện Làng trong lịch sử Việt Nam, văn hoá Làng cũng ra đời và trở thành đặc trưng của văn hoá dân tộc- nơi lưu giữ phong phú và đa dạng các giá trị văn hoá Việt Nam. Văn hóa làng xã Quảng Nam rất đặc trưng và nhiều giá trị tiêu biểu; là nội lực, là nền tảng tinh thần cho xây dựng nông thôn Quảng Nam.
Vai trò của KH&CN đối với việc “tam nông” Quảng Nam còn nhiều việc phải tiếp tục suy nghĩ và đầu tư. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chưa có khả năng đề cập một cách thấu đáo, toàn diện. Những suy nghĩ chỉ là bước đầu, mong góp tiếng nói chung, rất mong các nhà quản lý, các nhà nghiên cứu chỉ giáo, để xây dựng nông thôn Quảng Nam theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong thời gian tới.
Phạm Ngọc Sinh
|